Mục đích khóa học

Huấn luyện cho người học hiểu được bản chất và hậu quả của vết thương phần mềm, làm chủ cách sơ cứu ban đầu và kỹ thuật băng vết thương phần mềm ở các vị trị khác nhau trên cơ thể; từ đó vận dụng vào thực tiễn cấp cứu nạn nhân tại nơi bị thương, bị nạn (trên đường, bãi tập thể thao, ở công trường, trường học, tại chiến trường…).

Mục tiêu học tập

  • Thuyết minh được bản chất và hậu quả của vết thương phần mềm, cách xử trí bước đầu các loại vết thương phần mềm thường gặp (vết thương sạch, bẩn, dập nát…).
  • Mô tả được kỹ thuật băng vết thương tứ chi, đầu - mặt, ngực - bụng.
  • Làm được kỹ thuật băng vết thương ở các vùng tứ chi, đầu - mặt, ngực - bụng.
  • Áp dụng được kỹ thuật băng vết thương tứ chi, đầu - mặt, ngực - bụng vào thực tiễn cấp cứu nạn nhân tại nơi bị nạn.
  • Nghiêm túc, tự tin làm chủ kỹ thuật khi băng vết thương cho nạn nhân.

KHÁI QUÁT CHƯƠNG TRÌNH, NỘI DUNG HỌC TẬP

PHẦN LÝ THUYẾT

Thế nào là vết thương phần mềm?

Vết thương phần mềm là những vết thương gây tổn thương da, tổ chức dưới da, cân, cơ và các mạch máu nhỏ nuôi cơ. Vết thương phần mềm có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra như: tai nạn giao thông, tai nạn lao động, tai nạn sinh hoạt, vũ khí chiến tranh, tác động gián tiếp vởi thảm họa thiên tai, động đất, bão lũ…

Vết thương phần mềm có nguy hiểm không?

Vết thương phần mềm khi không được sơ cứu đúng và băng sớm sẽ gây nhiều hậu quả và biến chứng nguy hiểm như:

  • Mất máu do chảy máu kéo dài, mất máu nhiều có thể dẫn đến tử vong.
  • Đau và tổn thương thứ phát do vết thương bị tác động trực tiếp bởi các yếu tố bên ngoài (va chạm, cọ sát cơ học; nhiệt độ nóng, lạnh; tác động bởi hóa chất, dị vật…).
  • Ô nhiễm, nhiễm bẩn thêm do vết thương tiếp xúc trực tiếp với môi trường, làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn vết thương; đặc biệt nguy hiểm là nhiễm khuẩn huyết, nhiễm khuẩn uốn ván, hoại thư sinh hơi. Các nhiễm khuẩn này có thể gây tử vong hoặc tàn phế cho nạn nhân.

Xử trí tốt, băng sớm vết thương phần mềm có những lợi ích gì?

Xử trí tốt và băng sớm vết thương phần mềm sẽ giúp:

  • Cầm máu tại vết thương: các đường băng ép lên bề mặt vết thương làm sẹp các mạch máu nhỏ, đồng thời khởi phát cơ chế đông máu, tạo cục máu đông nút các mạch máu bị tổn thương, từ đó làm ngừng chảy máu.
  • Giảm đau, che kín, bảo vệ vết thương khỏi bị ô nhiễm thêm: Sau khi băng, vết thương được bao bọc, che kín và bảo vệ khỏi các yếu tố bên ngoài tác động, nên có tác dụng giảm đau và hạn chế được tình trạng ô nhiễm thêm từ bên ngoài.
  • Hạn chế các biến chứng xấu như: sốc (do mất máu, do đau); hạn chế nhiễm khuẩn, đặc biệt nhiễm khuẩn huyết, uốn ván, hoại thư…
  • Tạo điều kiện cho tuyến bệnh viện điều trị vết thương thuận lợi, hiệu quả.

Khi băng vết thương cần tuân thủ những nguyên tắc nào?

  • Băng nhanh, băng sớm: Băng nhanh, băng sớm nhằm tức thì làm ngừng sự chảy máu, làm giảm lượng máu mất đi và hạn chế nhiều nhất lượng vi khuẩn xâm nhập vào vết thương.Băng nhanh còn để băng được nhiều vết thương, nhiều nạn nhân (gặp trong các thảm họa), từ đó nạn nhân được chuyển nhanh về tuyến sau an toàn.
  • Băng đúng kỹ thuật: Là tuỳ từng vị trí vết thương trên cơ thể mà áp dụng kiểu băng cho phù hợp, đồng thời băng không lỏng quá, không chặt quá để bảo đảm vừa đạt mục đích băng, vừa không gây biến chứng hoại tử dưới vùng băng.
  • Băng kín vết thương: là băng che phủ hết diện tích của vết thương.
  • Không bỏ sót vết thương: là phải băng hết số lượng vết thương trên người nạn nhân (thực tế trên một nạn nhân luôn có thể có nhiều vết thương).
  • Không làm ô nhiễm thêm vết thương trong khi băng: Phải dùng băng, bông, gạc, vô khuẩn để băng; không băng ngoài quần, áo.

Trong thực thế có thể sử dụng những loại băng gạc nào để băng?

Trên thị trường hiện có nhiều loại băng khác nhau, tùy theo vết thương mà sử dụng các loại băng cho phù hợp, hiệu quả.

Băng cuộn

Thường được trang bị trong các túi cứu thương.Cấu tạo: bằng vải mềm, rộng 5 - 6 cm, dài 4 - 6 m.Ưu điểm: Tác dụng cầm máu tốt, băng được tất cả các vị trí trên cơ thể. Nhược điểm: không có sẵn bông, gạc vô khuẩn.

Băng thun:

Băng dùng được cho nhiều mục đích khác nhau như: cố định băng gạc, quấn giữ nẹp bột, băng ép và băng hỗ trợ trong bong gân, giãn dây chằng. Băng màu trắng có độ co giãn: 200%, cho tia X đi qua. Thông thoáng, không làm hầm da. Có thể giặt băng và sử dụng lại (nhiệt độ tối đa là 130°C).

Băng cá nhân Urgo Durable:

Băng keo thông thoáng, độ dính cao, co giãn tốt, giúp bảo vệ các vết thương nhỏ, vết trầy, xước, rách da, vết kim đâm... Băng làm bằng vải viscose và polyamide co giãn; gạc viscose, có lớp màng trên cùng bằng polyethylene không gây dính; keo oxide kẽm không dùng dung môi. Cần làm vệ sinh da và lau khô trước khi dán băng, thay băng hằng ngày.

Băng tam giác:

Làm bằng vải kate, dùng để băng bó cố định và nâng đỡ. Kích thước: dài 85 cm x cao 40 cm.

Gạc miếng vô trùng:

Được làm từ 100% sợi cotton, khả năng thấm hút cao và nhanh. Mịn màng, mềm mại, không gây kích ứng da. Có nhiều kích thước phù hợp với nhiều loại vết thương: 5 cm x 6.5 cm x 12 lớp; 8 cm x 10 cm x 12 lớp; 10 cm x 12 cm x 12 lớp; 10 cm x 10 cm x 12 lớp… Dùng đặt phủ bề mặt vết thương trước khi băng để cầm máu và hạn chế nhiễm khuẩn.

Gạc thấm hút và loại bỏ mảnh hoại tử Urgoclean:

Có nhiều kích thước phù hợp với nhiều loại vết thương: dài 85 cm x cao 40 cm; 15 cm x 20 cm. Dùng đặt phủ bề mặt vết thương trước khi băng, dùng cho các vết thương dập nát, nhiều dịch và tổ chức hoại tử

Có những kiểu băng nào để băng cho các vùng khác nhau của cơ thể?

Băng vòng xoắn:

Là đưa cuốn băng đi theo hình xoắn của chiếc lò xo từ dưới lên trên hoặc như hình ảnh con rắn cuốn vào thân cây. Áp dụng với vết thương ở những vùng có hình thể tương đối tròn đều như: 2/3 dưới cánh tay, bụng, ngực...

Băng số tám:

Là đưa cuộn băng đi theo hình số tám, các đường băng bắt chéo nhau tạo thành các dấu nhân trên bề mặt vết thương. Áp dụng với vết thương ở những vùng có hình thể không tròn đều như: 2/3 trên của cẳng tay, đùi, mông, bẹn, vai...

Băng đặc biệt:

Là kiểu băng kết hợp giữa băng vòng xoắn và băng số tám. Áp dụng với vết thương ở những vùng có hình thể đặc biệt như đầu, mặt, gối, gót...

Sơ cứu vết thương phần mềm như thế nào?

Là làm những kỹ thuật y tế đơn giản nhất để ngăn chặn hoặc hạn chế những diễn biến, biến chứng, hậu quả xấu từ vết thương ban đầu. Việc sơ cứu thường gồm:

  • Xác định nhanh số lượng, vị trí, tính chất nguy hiểm của các vết thương; từ đó xác định vết thương cần ưu tiên sơ cấp cứu.
  • Thứ tự vết thương cần ưu tiên sơ cứu thường là: các vết thương đe dọa tính mạng như vết thương mạch máu hoặc gây mất lượng máu lớn (vết thương dập nát lớn), vết thương ngực hở, vết thương lòi tạng…; vết thương lớn trước, vết thương nhỏ sau; vết thương phức tạp trước, vết thương đơn giản sau…
  • Làm sạch bề mặt vết thương: Trước khi băng vết thương cần loại bỏ bớt đất cát, dị vật trên bề mặt vết thương hết mức có thể. Lưu ý không cố lấy dị vật sâu trong vết thương hoặc cố lấy các tác nhân trực tiếp gây vết thương như dao, đầu đạn, cành cây găm sâu trong cơ thể vì dễ gây biến chứng, gây tổn thương thêm và gây khó khăn cho việc thăm khám, điều trị của tuyến sau.
  • Băng vết thương để cầm máu, giảm đau, hạn chế nhiễm khuẩn, tránh tổn thương thêm và các biến chứng xấu khác.
  • Sơ cứu các tổn thương kết hợp, trợ tim, trợ sức, giảm đau (nếu cần) và vận chuyển nạn nhân về tuyến sau an toàn.

Kỹ thuật băng gồm mấy bước, là những bước nào?

  • Bước 1: Bộc lộ vết thương bằng cách xé theo vết rách, đường chỉ may hoặc dùng dao, kéo cắt, rạch quần áo để bộ lộ toàn bộ vết thương.
  • Bước 2: Đặt gạc vô khuẩn phủ kín vết thương, chú ý mặt gạc phủ trực tiếp lên bề mặt vết thương phải vô khuẩn.
  • Bước 3: Băng vết thương theo nguyên tắc băng (đã trình bày ở phần trên).

PHẦN THỰC HÀNH

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT MẪU

I. KỸ THUẬT BĂNG VẾT THƯƠNG TỨ CHI

  • Kỹ thuật băng vết thương gan tay
  • Kỹ thuật băng vết thương 2/3 trên cẳng tay
  • Kỹ thuật băng vết thương nếp gấp khuỷu
  • Kỹ thuật băng vết thương mỏm khuỷu
  • Kỹ thuật băng vết thương cánh tay
  • Kỹ thuật băng vết thương vùng cơ delta

II. KỸ THUẬT BĂNG VẾT THƯƠNG VÙNG ĐẦU MẶT

  • Kỹ thuật băng vết thương vùng đỉnh đầu không lòi não
  • Kỹ thuật băng vết thương lòi não vùng đỉnh đầu
  • Kỹ thuật băng vết thương vùng trán - chẩm
  • Kỹ thuật băng vết thương mắt
  • Kỹ thuật băng vết thương tai
  • Kỹ thuật băng vết thương cằm

III. KỸ THUẬT BĂNG VẾT THƯƠNG VÙNG NGỰC, BỤNG

  • Kỹ thuật băng vết thương thành ngực, ngực kín
  • Kỹ thuật băng vết thương ngực hở
  • Kỹ thuật băng vết thương bụng không lòi phủ tạng
  • Kỹ thuật băng vết thương bụng lòi phủ tạng

TỔ CHỨC RÈN LUYỆN

  • Phân nhóm, phân vai

    Phân nhóm: 03 học viên vào một nhóm để rèn luyện.

    Phân vai: 01 học viên đóng vai người bị thương, 01 học viên đóng vai người cấp cứu, 01 học viên sử dụng bảng kiểm.

  • Hướng dẫn sử dụng bảng kiểm

    Bảng kiểm gồm 3 cột, cột thứ nhất là cột thứ tự, cột thứ 2 là cột nội dung, cột thứ 3 là cột thực hiện.

    Lần 1. Người cầm bảng kiểm tiến hành đọc thứ tự các bước ở bảng kiểm cho người cấp cứu thực hiện.

    Lần 2. Người người cấp cứu tự thực hiện kỹ thuật, người cầm bảng kiểm đối chiếu với các bước thực hiện kỹ thật (đánh dấu “X” vào bước thực hiện, để trống nếu không thực hiện).

  • Tiến hành rèn luyện: Với mỗi vết thương giả định, mỗi thành viên trong nhóm lần lượt đảo vai để thực hành rèn luyện kỹ thuật băng vết thương ở các vùng khác nhau.

LƯỢNG GIÁ

Giáo viên tổ chức cho đại diện các nhóm bốc tình huống vết thương, trên cơ sở đó, các nhóm tổ chức thi chạy trạm thực hành kỹ thuật băng. Khi các nhóm thực hiện kỹ thuật, giáo viên và thành viên còn lại của các nhóm cùng sử dụng bảng kiểm đánh giá kết quả, nhóm thực hiện kỹ thuật chính xác và nhanh nhất sẽ nhận giải thưởng của khóa học (túi cứu thương/sách/khác…).

KẾT LUẬN

Băng vết thương là một trong những kỹ thuật cấp cứu đầu tay của mỗi cán bộ, nhân viên y tế; cũng là kỹ thuật y học thiết yếu cho cộng đồng. Vì vậy, hơn ai hết, mỗi học viên cần phải học tập, rèn luyện thành thạo nhóm kỹ thuật này để trong mọi hoàn cảnh đều có thể áp dụng, thực hiện nhanh chóng và hiệu quả, hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ tử vong và tàn phế cho người bị thương.
Đặt lịch xét nghiệm