Mục đích khóa học

Huấn luyện cho người học làm chủ kỹ thuật hồi sinh tim phổi, trên cơ sở đó biết vận dụng vào thực tiễn cấp cứu nạn nhân ngừng tim, ngừng thở ngay tại nơi bị nạn.

Mục tiêu học tập

  • Mô tả được kỹ thuật ép tim ngoài lồng ngực kết hợp với thổi ngạt.
  • Làm được các kỹ thuật ép tim ngoài lồng ngực kết hợp với thổi ngạt.
  • Áp dụng được kỹ thuật ép tim ngoài lồng ngực kết hợp với thổi ngạt vào thực tiễn cấp cứu nạn nhân tại nơi bị thương, bị nạn.
  • Nghiêm túc, trách nhiệm cao, quyết tâm làm chủ kỹ thuật ép tim ngoài lồng ngực kết hợp với thổi ngạt.

KHÁI QUÁT CHƯƠNG TRÌNH, NỘI DUNG HỌC TẬP

PHẦN LÝ THUYẾT

Hoạt động của tim, phổi quan trọng thế nào?

Không khí rất cần cho sự sống, con người có thể nhịn ăn trong một tuần, nhịn uống vài ngày nhưng không thể nhịn thở quá 5 phút.

Tim là bộ phận quan trọng của cơ thể, nằm trong lồng ngực, trong trung thất, giữa 2 lá phổi, sau xương ức và các sụn sườn; có chức năng đều đặn bơm máu vào động mạch đem dưỡng khí và các chất dinh dưỡng đi nuôi toàn bộ cơ thể, đồng thời loại bỏ các chất thải trong quá trình trao đổi chất. Máu từ tĩnh mạch về tim sau đó được đẩy đến phổi để trao đổi khí. Tại phổi diễn ra quá trình trao đổi khí, cơ thể nhận O2 và đào thải CO2 ra ngoài.

Khi ngừng tim phổi sẽ dẫn đến thiếu ôxy trong máu và tế bào, làm cho các tế bào bị tê liệt và chết, trước tiên là chết các tế bào thần kinh (khi thiếu ôxy quá 5 phút); hậu quả là nạn nhân chết do mất hoặc rối loạn nghiêm trọng các chức phận sống (não bộ, điều hòa thân nhiệt, điều hòa nội môi, bài tiết…); nếu sống sót, nạn nhân có thể phải sống trong tình trạng rối loạn ý thức, rối loạn tâm thần… do tế bào não tổn thương không hồi phục.

Vì vậy, trong cấp cứu ngừng tim phổi cần tiết kiệm tối đa thời gian; cần nhanh chóng tiếp cận người bệnh ngay cả trường hợp nghi ngờ; gọi hỗ trợ sớm và nhanh chóng tiến hành cấp cứu ngay tại nơi bị nạn; đồng thời tuân thủ nguyên tắc: Khẩn trương - Kiên trì - Đúng kỹ thuật!

Đảm bảo hoạt động tim phổi bình thường là việc làm vô cùng cấp thiết, là cấp cứu sinh tồn giành giật mạng sống cho nạn nhân; kiến thức và kỹ năng “Cấp cứu ngừng tim phổi cơ bản” sẽ giúp chúng ta hiện thực hóa yêu cầu đó.

Ngừng tim phổi thường do những nguyên nhân nào gây ra?

Ngừng tim phổi thường xảy ra đột ngột, không báo trước, có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra.

  • Nguyên nhân do tim: Thiếu máu cơ tim, tắc mạch vành cấp; bệnh cơ tim, viêm cơ tim; chấn thương gây chèn ép tim cấp, kích thích trực tiếp vào tim.
  • Nguyên nhân tuần hoàn: Thiếu khối lượng tuần hoàn cấp (các loại sốc); tắc mạch phổi (do khí, do cục nghẽn); cơ chế phản xạ dây phế vị.
  • Nguyên nhân hô hấp: Tràn khí màng phổi nặng; thiếu oxy cấp (thường gây ra vô tâm thu): tai nạn hầm mỏ, vùi lấp, ngạt phòng kín; ưu thán.
  • Nguyên nhân rối loạn chuyển hoá: Rối loạn chuyển hoá kali, tăng canxi máu cấp, tăng catecholamin cấp, hạ thân nhiệt.
  • Nguyên nhân do thuốc, nhiễm độc: Tác động trực tiếp của thuốc gây ngừng tim; do tác dụng phụ của thuốc nói chung.
  • Điện giật, đuối nước; dị vật bít tắc đường thở.

Dựa vào dấu hiệu nào để nhận biết nạn nhân ngừng tim phổi?

Dựa vào 3 dấu hiệu cơ bản sau:
  • Mất ý thức: được xác định khi gọi hỏi nạn nhân không đáp ứng trả lời, không có phản xạ thức tỉnh.
  • Ngừng thở hoặc thở ngáp: xác định khi lồng ngực và bụng nạn nhân hoàn toàn không có cử động thở.
  • Ngừng tim: khi mất mạch cảnh hoặc mất mạch bẹn.
Ngoài ra nạn nhân còn có các triệu chứng khác như: da nhợt nhạt hoặc tím tái, giãn đồng tử và mất phản xạ đồng tử với ánh sáng, nếu nạn nhân có vết thương sẽ thấy máu ở vết thương tím đen và ngừng chảy...

Cấp cứu ngừng tim phổi gồm những bước nào?

1. Loại bỏ tác nhân gây ngừng tim phổi

Khi phát hiện, cần nhanh chóng tiếp cận nạn nhân, loại bỏ tác nhân gây ngừng tim phổi, đưa nạn nhân ra khỏi vùng nguy hiểm (đuối nước, điện giật...).

2. Đánh giá ý thức, kích thích tim, thức tỉnh nạn nhân

Ngay khi xác định hoặc được thông báo có người mất ý thức đột ngột cần nhanh chóng đánh giá ý thức, gọi hỏi nạn nhân thật to bằng 2 câu hỏi “Anh tên là gì?”“Anh làm sao thế?”; đồng thời dùng tay đập mạnh lên vùng ngực người bệnh hoặc dùng tay day ấn mạnh vào vùng xương ức (vùng giữa ngực) để kích thích tim và thức tỉnh nạn nhân.

3. Báo động, gọi người hỗ trợ

Cùng với kích thích tim và thức tỉnh nạn nhân, ngay lập tức gọi người hỗ trợ cấp cứu; gọi ngắn gọn, đủ lớn và đủ thông tin theo thứ tự: Người bệnh ở… (ví dụ: trong bếp, ngoài vườn…), bị bất tỉnh đột ngột, cần hỗ trợ cấp cứu khẩn cấp!

4. Tổ chức cấp cứu

Cấp cứu ngừng tim phổi được khởi động ngay từ khi phát hiện trường hợp nghi ngờ ngừng tim phổi. Người cấp cứu vừa tiến hành tiếp cận người bệnh, gọi người hỗ trợ vừa bắt đầu các biện pháp hồi sinh tim phổi cơ bản ngay.

Khi có nhiều người cấp cứu, cần có 1 người là chỉ huy để phân công, tổ chức cấp cứu đúng trình tự và đồng bộ.

Cần ghi nhớ thời điểm tiếp cận người bệnh và bắt đầu cấp cứu.

Thiết lập không gian cấp cứu đủ rộng và hạn chế tối đa những người không không tham gia cấp cứu vào và làm cản trở công tác cấp cứu.

Nhanh chóng đặt người bệnh nằm trên 1 mặt phẳng cứng để có thể tiến hành các phương pháp hồi sinh tim phổi cơ bản.

5. Thực hiện phương pháp hồi sinh tim phổi thích hợp

Hiện nay có nhiều phương pháp cấp cứu ngừng tim phổi có thể áp dụng, người cấp cứu cần căn cứ vào nguyên nhân gây ngừng tim phổi và người bệnh cụ thể mà lựa chọn phương pháp phù hợp để việc cấp cứu đạt được hiệu quả cao nhất.

Các phương pháp cấp cứu ngừng tim phổi cơ bản gồm: Ép tim kết hợp thổi ngạt;

Nielsen, Sylvester, Schaeffer... Kỹ thuật tiến hành các phương pháp như sau:

Phương pháp ép tim, thổi ngạt

Là kỹ thuật hồi sinh tim phổi cơ bản, gồm 3 bước ABC/CAB (2010):

A - Kiểm soát đường thở (Airway control)

  • Đặt đầu ngửa, cổ ưỡn, kéo hàm dưới/nâng cằm. Trường hợp nghi ngờ hoặc có chấn thương cột sống cổ không làm thủ thuật kéo hàm/nâng cằm.
  • Móc sạch đờm dãi hay dị vật trong miệng nếu có.
  • Làm nghiệm pháp Heimlich nếu có nghi ngờ dị vật đường thở.

B - Hô hấp hỗ trợ (Breathing support)

Nếu người bệnh không thở, thổi ngạt hoặc bóp bóng 2 lần liên tiếp, sau đó kiểm tra mạch.

Nếu có mạch: tiếp tục thổi ngạt hoặc bóp bóng.

Nếu không có mạch: thực hiên chu kỳ ép tim, thổi ngạt theo tỷ lệ 30/2.

Lưu ý: Nhịp thở nhân tạo (thổi ngạt hoặc bóp bóng) cần bảo đảm thổi vào trong 1 giây, đủ làm lồng ngực phồng lên nhìn thấy được với tần số thở 10 - 12 lần/phút đối với người lớn, 12 - 20 lần/phút đối với trẻ nhỏ và nhũ nhi. Nối oxy với bóng ngay khi có oxy.

C - Ép tim ngoài lồng ngực (Chest compression)

Kiểm tra mạch cảnh trong vòng 10 giây.

Nếu không thấy mạch: tiến hành ép tim ngoài lồng ngực ngay.

Ép tim ở 1/2 dưới xương ức, lún 1/3 - 1/2 ngực (4 - 5 cm với người lớn) đủ để sờ thấy mạch đập khi ép; tần số 100 lần/phút.

Phương châm là ép nhanh, ép mạnh, không gián đoạn và để ngực phồng lên hết sau mỗi lần ép.

Tỷ lệ ép tim/thổi ngạt là 30/2 nếu là người bệnh lớn hoặc người bệnh trẻ nhỏ, nhũ nhi có 1 người cấp cứu. Tỷ lệ này có thể là 15/2 đối với trẻ nhỏ hoặc nhũ nhi có 2 người cấp cứu.

- Kiểm tra mạch trong vòng 10 giây sau mỗi 5 chu kỳ ép tim, thổi ngạt (1 chu kỳ là 30 lần ép tim/2 lần thổi ngạt) hoặc sau mỗi 2 phút.

Phương pháp Nielsen

Thường áp dụng cấp cứu các nạn nhân đuối nước. Sau khi nạn nhân được vớt lên khỏi mặt nước, thực hiện các bước cấp cứu như sau:

  • Đặt nạn nhân nằm sấp.
  • Sốc nước (tống nước trong bụng ra ngoài).
  • Giải phóng đường hô hấp trên (lau, móc đờm dãi, lấy dị vật trong miệng, mũi nạn nhân ra ngoài, nới lỏng trang phục…).
  • Hô hấp nhân tạo theo phương pháp Nielsen:

    Đặt người bị nạn nằm sấp, đầu quay sang một bên, gối lên hai bàn tay.

    Người cấp cứu quỳ ở phía đầu người bị nạn.

    Tạo thì thở ra: Ép mạnh hai bàn tay vào lưng của người bị nạn, lòng bàn tay đè lên hai xương bả. Khi ép, người cấp cứu hơi ngả về phía trước, hai cánh tay ấn thẳng (vuông góc với thành ngực) rồi buông ra đột ngột (Hình 3A).

    Tạo thì thở vào: Cầm tay người bị nạn ở sát mỏm khuỷu, kéo cánh tay lên trên và về phía đầu (không nhắc đầu lên), xong lại đặt tay về tư thế lúc ban đầu (Hình 3B).

    Làm với tần số 10-12 lần/phút.

Phương pháp Sylvester

Phương pháp này thường áp dụng để cấp cứu nạn nhân ngừng tim phổi do vùi lấp. Các bước tiến hành như sau:

  • Đặt nạn nhân nằm ngửa, đầu quay về một bên.
  • Kê gối dưới vai.
  • Giải phóng đường hô hấp trên (lau, móc đờm dãi, lấy dị vật trong miệng, mũi nạn nhân ra ngoài, nới lỏng trang phục…).
  • Hô hấp nhân tạo theo phương pháp sylvester:

    Người cấp cứu quỳ ở phía đầu người bị nạn, nắm chặt lấy 1/3 dưới cẳng tay người bị nạn.

    Thao tác tạo thì thở ra: Người cấp cứu đưa hai cẳng tay người bị nạn gấp trước ngực, rồi rời mông khỏi gót, cẳng tay và cánh tay duỗi thẳng ép mạnh lên thành ngực của nạn nhân (hình 4A).

    Thao tác tạo thì thở vào: Người cấp cứu ngồi xuống, đồng thời kéo hai tay người bị nạn về phía đầu, đồng thời ngả cang người ra sau (hình 4B).

    Làm với tần số 16- 20 lần/phút.

    Lưu ý: Khi cấp cứu, dù áp dụng phương pháp nào cũng đều cần đặc biệt tuân thủ nguyên tắc “Khẩn trương - Kiên trì - Đúng kỹ thuật”, vừa cấp cứu vừa quan sát, kiểm tra đánh giá tiến triển của nạn nhân để chờ hỗ trợ từ các chuyên gia y tế, nhất định không bỏ cuộc khi nạn nhân còn cơ hội được cứu sống.

Như thế nào là cấp cứu ngừng tim phổi cơ bản có hiệu quả?

Đó là khi việc cấp cứu đạt được mục đích cung cấp được máu và oxy đến cho tuần hoàn não, tuần hoàn vành cũng như tổ chức tế bào. Biểu hiện lâm sàng là niêm mạc môi bệnh nhân ấm và hồng trở lại; đồng tử co lại nếu thời gian thiếu oxy não chưa lâu và còn khả năng hồi phục. Càng tốt hơn nếu như có các dấu hiệu của sự sống như: thở trở lại, tim đập lại, ý thức tỉnh trở lại...

Lưu ý: chỉ cần có các dấu hiệu cung cấp được oxy cho tổ chức tế bào (môi ấm hồng trở lại) kết hợp chưa có dấu hiệu tổn thương nặng nề ở tổ chức não (đồng tử co lại) thì cần phải kiên trì cấp cứu, đồng thời gọi các đội cấp cứu y tế hoặc vừa cấp cứu vừa vận chuyển bệnh nhân đến một cơ sở y tế gần nhất để được cứu chữa chuyên sâu.

Khi nào ngừng cấp cứu?

Nếu đã áp dụng đúng, đủ các biện pháp cấp cứu như trên, không có điều kiện vận chuyển hoặc gọi tuyến trên chi viện, trong vòng 60 phút mà đồng tử không co lại, tim không đập lại thì cho phép ngừng cấp cứu và bệnh nhân tử vong.

Cần lưu ý các trường hợp ngừng tim - phổi trong điều kiện đặc biệt đã nêu phải cấp cứu kiên trì hơn vẫn có thể cứu sống bệnh nhân.

PHẦN THỰC HÀNH

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT MẪU

  • Loại bỏ tác nhân gây ngừng tim phổi
  • Đánh giá ý thức, kích thích tim, thức tỉnh nạn nhân
  • Báo động, gọi người hỗ trợ
  • Tổ chức cấp cứu
  • Thực hiện phương pháp hồi sinh tim phổi thích hợp

    Phương pháp ép tim, thổi ngạt

    Phương pháp Nielsen

    Phương pháp Sylvester

TỔ CHỨC RÈN LUYỆN

  • Phân nhóm, phân vai

    Phân nhóm: 03 học viên vào một nhóm để rèn luyện.

    Phân vai: 01 học viên đóng vai người bị thương, 01 học viên đóng vai người cấp cứu, 01 học viên sử dụng bảng kiểm.

  • Hướng dẫn sử dụng bảng kiểm

    Bảng kiểm gồm 3 cột, cột thứ nhất là cột thứ tự, cột thứ 2 là cột nội dung, cột thứ 3 là cột thực hiện.

    Lần 1. Người cầm bảng kiểm tiến hành đọc thứ tự các bước ở bảng kiểm cho người cấp cứu thực hiện.

    Lần 2. Người người cấp cứu tự thực hiện kỹ thuật, người cầm bảng kiểm đối chiếu với các bước thực hiện kỹ thật (đánh dấu “X” vào bước thực hiện, để trống nếu không thực hiện).

  • Tiến hành rèn luyện: Với mỗi vết thương giả định, mỗi thành viên trong nhóm lần lượt đảo vai để thực hành rèn luyện kỹ thuật băng vết thương ở các vùng khác nhau.

LƯỢNG GIÁ

Giáo viên tổ chức cho đại diện các nhóm bốc tình huống vết thương, trên cơ sở đó, các nhóm tổ chức thi chạy trạm thực hành kỹ thuật băng.

Khi các nhóm thực hiện kỹ thuật, giáo viên và thành viên còn lại của các nhóm cùng sử dụng bảng kiểm đánh giá kết quả, nhóm thực hiện kỹ thuật chính xác và nhanh nhất sẽ nhận giải thưởng của khóa học (túi cứu thương/sách/khác…).>

KẾT LUẬN

Cấp cứu ngừng tim phổi là một trong những kỹ thuật cấp cứu đầu tay của cán bộ, nhân viên y tế; của những người làm công tác cứu hộ, cứu nạn; cũng là kỹ thuật cấp cứu sinh tồn mà mỗi người dân cần làm được. Vì vậy, mỗi học viên cần phải rèn luyện thành thạo những kỹ thuật này để trong mọi hoàn cảnh có thể vận dụng để cấp cứu nạn nhân được nhanh nhất, hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ tử vong, tàn phế do không được cấp cứu hoặc cấp cứu không đúng kỹ thuật gây ra.

Đặt lịch xét nghiệm